Thứ Hai, 24 tháng 2, 2020

Quảng cáo “Sống như ý” của Generali Việt Nam lọt bảng xếp hạng APAC YouTube Ads tháng 1

APAC YouTube Ads Leaderboard – bảng xếp hạng quảng cáo được Google công bố hằng tháng tại khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, vừa công bố kết quả tháng 1 với những thương hiệu quen thuộc như McDonald, Oppo, Traveloka…Bảng xếp hạng này dựa trên thuật toán phân tích số lượt xem tự nhiên và khả năng giữ chân người xem (audience retention) trên nền tảng nhằm tôn vinh những quảng cáo chất lượng và sáng tạo.

Và quảng cáo “Sống như ý” của bảo hiểm nhân thọ Generali là đại diện duy nhất của Việt Nam lọt vào bảng xếp hạng lần này.

Úc – New Zealand: Australian Lamb. Lamb. The Original Social Feed

Hồng Kông: McDonaldsHK. 麥當勞® 2020 招財福堡系列 角落小夥伴™開運大吉樹 電視廣告

INDONESIA: Traveloka. #XperienceMore with Traveloka Xperience

Ấn Độ: OPPO Mobile India. OPPO F15 | #FlauntItYourWay | Available now

Nhật Bản: マルコメ公式チャンネル (marukomeOfficial). マルコメ 料亭の味 液みそ いつまでも一緒に篇 90秒

Hàn Quốc: samsamstory. 남극행 티켓을 향한 펭수의 무한도전~(feat.힘을줘요 정관장)

Malaysia: Watsons Malaysia. Watsons CNY 2020 – Happy Beautiful Year! 过靓年, 我最潮!

Philippines: Puso ng Andok’s. Ang Chibok ng Puso Ni Piolo

Pakistan: Pakistan Super League. Tayyar Hain | Official Anthem | HBL Pakistan Super League 2020

Singapore: Singtel. His Grandfather’s Road

Thái Lan: Nestle ICE CREAM Thailand. Nestlé Extreme Nama Orange : เซลฟี่พาซวย ทำคนสวยหัวร้อน

Đài Loan: 聯邦銀行. 聯邦銀行2020年品牌廣告- 楊俊瀚 第一個粉絲(完整版)

Việt Nam: Generali Vietnam. SỐNG NHƯ Ý | PHIM M NHẠC TẾT 2020 | GENERALI VIETNAM

Nhật Ánh / Advertising Vietnam
Theo Campaignasia

The post Quảng cáo “Sống như ý” của Generali Việt Nam lọt bảng xếp hạng APAC YouTube Ads tháng 1 appeared first on Advertising Vietnam.


Quảng cáo “Sống như ý” của Generali Việt Nam lọt bảng xếp hạng APAC YouTube Ads tháng 1 posted first on https://advertisingvietnam.com

3 lý do khiến phương tiện truyền thông xã hội của bạn không hiệu quả

Một số sai lầm cơ bản mà các doanh nghiệp liên tục mắc phải trong tiếp thị truyền thông xã hội (social media) đã và đang giới hạn khả năng tương tác của khán giả.

1. Không xác định khán giả của mình

Xác định đối tượng mục tiêu là giai đoạn quan trọng nhất khi bắt đầu lên kế hoạch truyền thông. Tuy nhiên một số doanh nghiệp lại cố gắng làm hài lòng tất cả mọi người và mong muốn sản phẩm của mình được biết đến càng nhiều càng tốt. Tuy nhiên, việc không tìm ra khán giả của mình sẽ khiến doanh nghiệp đi lệch hướng ngay từ đầu.

Thấu hiểu hiểu đối tượng mục tiêu (target audience) của bạn là ai, họ muốn gì, cần gì, phù hợp với nơi nào… là điều rất quan trọng để tối đa hóa hiệu suất marketing truyền thông xã hội của bạn. Có 5 cách nhắm đối tượng phổ biến theo địa lý, giới tính, tâm lý, nhân khẩu học, hành vi.

>>> Bài viết tham khảo: Nắm chắc đối tượng mục tiêu

2. Thiếu sự nhất quán

Khi các thuật toán truyền thông xã hội đang lên ngôi, sự nhất quán là chìa khóa để tăng lượng khán giả. Tuy nhiên điều này không có nghĩa là bạn cần xuất bản nội dung ngày qua ngày.

Sự nhất quán có nghĩa là đưa ra một lịch trình phù hợp với trang web/ fanpage của bạn và bám sát nó. Ngay cả khi không được đón nhận kết quả ngay lập tức, việc đăng bài thường xuyên, có kế hoạch sẽ khiến khán giả có lý do để tiếp tục ghé thăm. Trong khi đó, bạn vẫn có thời gian sáng tạo để thu hút ai đó tình cờ bắt gặp nội dung của bạn.

Chìa khóa để tối đa hóa sự hiện diện xã hội (social presence) là thông điệp mạnh mẽ và nội dung liên quan đến những gì khán giả của bạn cần xem. Đăng bài thường xuyên, cập nhật thông tin đều đặn cho khán giả và theo thời gian, bạn sẽ có được sự tin tưởng và tín nhiệm hơn.

3. Theo đuổi một cộng đồng lớn 

Bạn có thể hài lòng với số lượng người theo dõi “khủng” nhưng liệu họ có khả năng trở thành khách hàng mua sản phẩm, dịch vụ của bạn? Nếu không quan tâm đến đối tượng phù hợp với doanh nghiệp, thực ra bạn chỉ có một căn phòng đầy người.

Không chỉ vậy, tạo ra lượng follower “ảo” có nguy cơ làm hỏng cơ sở dữ liệu, một trong những lợi ích chính của tiếp thị truyền thông xã hội. Giả sử bạn có 1000 người theo dõi fanpage, nhưng 900 người trong số đó sẽ không sẵn sàng chi trả cho doanh nghiệp của bạn. Điều đó có nghĩa là tất cả các phân tích và insight đều trở nên vô nghĩa, việc hiểu rõ về nhu cầu của khán giả càng khó khăn hơn.

Hầu hết người dùng hiện nay đều biết rằng số lượng theo dõi có thể bị làm giả. Đó là lý do tại sao nội dung và chất lượng kinh doanh của bạn quan trọng hơn và sẽ mang lại kết quả tốt hơn trong dài hạn.

Kết luận

Tóm lại, sự khác biệt giữa thành công và thất bại trong lĩnh vực social media chính là một quy trình hiệu quả: tìm ra khán giả của mình, cung cấp nội dung nhất quán và đều đặn quan sát, điều chỉnh quy trình đó.

Nghe có vẻ hàng tá công việc cần phải thực hiện. Hãy đơn giản suy nghĩ đó bằng cách chia nhỏ các nhiệm vụ chính cần hoàn thành mỗi ngày, vạch ra kế hoạch dựa trên cơ sở dữ liệu khách hàng và từ đó triển khai để đạt được mục đích truyền thông.

Ngọc Anh / Advertising Vietnam

Theo Social Media Today

The post 3 lý do khiến phương tiện truyền thông xã hội của bạn không hiệu quả appeared first on Advertising Vietnam.


3 lý do khiến phương tiện truyền thông xã hội của bạn không hiệu quả posted first on https://advertisingvietnam.com

Chủ Nhật, 23 tháng 2, 2020

Sự khác biệt giữa marketing B2B và B2C

B2B và B2C chính là 2 thuật ngữ viết tắt được sử dụng phổ biến trong lĩnh vực kinh doanh và marketing. Bài viết này nói qua những điểm khác biệt cơ bản giữa B2B và B2C thông qua định nghĩa, đối tượng khách hàng, các chiến lược cũng như quy trình bán hàng.

Chiến lược marketing B2B

B2B là từ viết tắt của “Business-to-Business”, mô tả quá trình giao dịch giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp, là mô hình mà doanh nghiệp mang sản phẩm, dịch vụ của mình bán cho công ty, doanh nghiệp khác hoặc như giữa các nhà sản xuất và người bán buôn, giữa người bán sỉ với các nhà bán lẻ.

Khác với việc giao dịch với các khách hàng cá nhân, các doanh nghiệp sở hữu một quy trình mua hàng đặc trưng riêng nhằm tiết kiệm thời gian và tiền bạc. Khi mua hàng, các doanh nghiệp thường chú trọng đến yếu tố logic. Vì vậy, khi tiếp thị sản phẩm cho doanh nghiệp, điều mà các Marketers cần lưu ý chính là tập trung vào đặc điểm chức năng của sản phẩm, các tài liệu tiếp thị cần phải có chiều sâu, mang tính phân tích cao. Hơn nữa, hầu hết các doanh nghiệp đều muốn thấy được ROI (tỷ lệ lợi nhuận thu được so với chi phí đầu tư) trong các chiến lược marketing của bạn để thấy được sự khác biệt so với sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh.

Các mô hình kinh doanh B2B phổ biến

Mô hình thiên về bên bán: Đây là một mô hình khá thông dụng tại Việt Nam, nhờ vào sự tiện ích của nó cho các doanh nghiệp. Với mô hình này, doanh nghiệp sẽ đóng vai trò cung cấp các hàng hóa, dịch vụ tới một bên thứ ba thông qua trang thương mại điện tử hoặc website cho các đối tác giao dịch. Đơn vị thứ ba này có thể là các cá nhân, những nhà bán buôn, bán lẻ hoặc nhà sản xuất. Thông thường, mô hình này sẽ phân phối với số lượng hàng lớn.

Mô hình thiên về bên mua: So với mô hình B2B thiên về bên bán, loại hình này ở Việt Nam thường sẽ ít gặp hơn vì hiện nay hầu hết các doanh nghiệp đều muốn bán sản phẩm của mình ra thị trường. Tuy vậy, ở nước ngoài thì các doanh nghiệp B2B thiên về bên mua khá phát triển. Đây là loại hình mà bên mua sẽ có vai trò chiếm ưu thế hơn, họ nhập hàng từ bên đơn vị thứ ba để báo giá và phân phối sản phẩm đến các khách hàng của mình.

Mô hình trung gian: Đây cũng là một loại mô hình quen thuộc tại Việt Nam bởi lẽ mô hình này đóng vai trò cầu nối giữa người mua và người bán với nhau thông qua các sàn thương mại điện từ như Shopee, Lazada, Amazon, v.v. Hình thức hoạt động của các trang này đều cho phép các doanh nghiệp có nhu cần bán đăng ký rồi gửi dịch vụ, sản phẩm thông qua bên trung gian này để quảng bá và phân phối cho những tổ chức, cá nhân có nhu cầu mua.

Mô hình dạng thương mại hợp tác: Mô hình này cũng có hình thức tương tự như mô hình B2B trung gian nhưng mang tính chất tập trung và thuộc quyền sở hữu của nhiều đơn vị hơn. Nó thường được hiển thị dưới dạng sàn giao dịch điện tử như: Chợ trên mạng (net marketplaces), Chợ điện tử (e-marketplaces), Sàn giao dịch Internet (Internet exchanges), Thị trường điện tử (e-markets), Trung tâm trao đổi (exchange hubs), Cộng đồng thương mại (trading communities), Sàn giao dịch thương mại (trading exchanges).

Chiến lược marketing B2C

B2C là viết tắt của “Business to Customer”, mô tả quá trình giao dịch giữa những doanh nghiệp với người tiêu dùng cuối cùng. Đây là quá trình bán sản phẩm và dịch vụ trực tiếp của các doanh nghiệp cho những người tiêu dùng cuối cùng hoặc cho các doanh nghiệp mua sản phẩm với mục đích sử dụng. Ví dụ như một doanh nghiệp mua văn phòng phẩm để phục vụ cho công việc văn phòng ở công ty cũng gọi là người tiêu dùng cuối cùng. Hầu như các doanh nghiệp bán hàng trực tiếp cho người tiêu dùng đều có thể được gọi là doanh nghiệp B2C.

Hình thức kinh doanh B2B là một hình thức phổ biến hơn hẳn so với B2B. Theo truyền thống, B2C tồn tại dưới các hình thức mua sắm trực tiếp tại các cửa hàng, ăn uống, xem phim, v.v. Tuy nhiên, ở thời đại internet phát triển, B2C đã có thêm một kênh kinh doanh mới chính là hình thức thương mại điện từ. Đối với các doanh nghiệp theo mô hình B2C, việc duy trì mối quan hệ và giữ chân khách hàng là ưu tiên hàng đầu. Không giống việc các doanh nghiệp theo mô hình B2B phải có chiến dịch tiếp thị chứng minh giá trị sản phẩm và dịch vụ, các doanh nghiệp B2C phải chú ý đến cảm xúc của khách hàng.

Chính vì việc mua hàng phù thuộc vào cảm xúc khách hàng thế nên các marketers cần chú ý tập trung đến việc cho khách hàng thấy được giá trị mà sản phẩm hay dịch vụ của bạn mang lại đến trong cuộc sống của họ. Đồng thời cần quảng bá thông điệp trên các kênh phù hợp với đối tượng khách hàng. Có rất nhiều nền tảng có thể giúp bạn đạt được mục tiêu như Facebook, Twitter, Instagram, v.v. Sử dụng các nền tảng cho việc quảng bá sẽ giúp tăng lượt tương tác và tiếp cận sản phẩm nhiều hơn. Ngoài ra, các thông điệp sản phẩm cũng cần phải ngắn gọn, dễ nhớ và đúng trọng tâm.

Các mô hình kinh doanh B2C phổ biến

Bán hàng trực tiếp: Đây là mô hình phổ biến nhất, người tiêu dùng sẽ mua hàng hóa từ các nhà bán lẻ trực tuyến. Những nhà bán lẻ này có thể bao gồm các nhà sản xuất hoặc doanh nghiệp nhỏ, hoặc đơn giản là các phiên bản trực tuyến của các cửa hàng bách hóa sản phẩm đến từ các nhà sản xuất khác nhau.

Trung gian trực tuyến: Mô hình này được áp dụng cho những doanh nghiệp hoặc cá nhân không thực sự sở hữu các sản phẩm hoặc dịch vụ mà chỉ giữ vai trò kết hợp người mua và người bán với nhau.

B2C dựa trên quảng cáo: Những doanh nghiệp và cá nhân sử dụng mô hình này thường sở hữu một website có nội dung để thu hút lượng truy cập, sau đó sử dụng lượng truy cập web này để bán quảng cáo, hàng hóa và dịch vụ.

B2C dựa trên phí: Các trang web trực tiếp hướng đến người tiêu dùng ví dụ như Netflix, một nền tảng xem phim thu phí để người tiêu dùng có thể truy cập vào nội dung của họ. Cũng có một số trang web cung cấp cho người dùng những nội dung miễn phí có giới hạn trong một thời gian, sau đó tính phí người dùng ở một số nội dung.

Netflix cho phép khách hàng đăng ký dùng thử miễn phí trong một tháng đầu trước khi quyết định sử dụng dịch vụ.

 

Nhật Ánh / Advertising Vietnam

The post Sự khác biệt giữa marketing B2B và B2C appeared first on Advertising Vietnam.


Sự khác biệt giữa marketing B2B và B2C posted first on https://advertisingvietnam.com

Thương hiệu bắt trend thế nào để không bị bắt thóp nội dung?

Mỗi buổi sáng thức dậy, chúng ta lại đón nhận thêm vô vàn xu hướng mới. Sức nóng của các sự kiện, nhân vật nổi tiếng đã tạo nên “cuộc đua bắt trend”, nơi mà các thương hiệu so kè nhau từng chút một để giành sự chú ý của khách hàng.

Trong bối cảnh thông tin tiếp thị tràn ngập ở khắp mọi nơi, người tiêu dùng ngày càng “kén cá chọn canh” với những nội dung mà họ tiêu thụ. Từ đây, Marketing Trend chứng tỏ là một công cụ thu hút khách hàng một cách tự nhiên và sáng tạo, có tính viral cao. Thế nhưng từ “bắt trend” cho đến việc thương hiệu bị “bắt thóp” là một ranh giới mỏng manh nếu như không có sự tính toán kỹ lưỡng.

Đơn cử như tình huống “vạ miệng” của Coca Cola Việt Nam vào năm 2019. Với mục đích hòa chung niềm vui chiến thắng của đội tuyển U23 Việt Nam, chiến dịch “Mở lon Việt Nam” bất ngờ bị Bộ Văn hóa – thể thao và du lịch cấm đoán với lý do câu từ không phù hợp thuần phong mỹ tục.

Vậy thương hiệu nên tận dụng “bệ phóng” của xu hướng thế nào để không bị đẩy vào thế khó?

Phương châm đơn giản, gần gũi

Giống như một cuộc trò chuyện, nội dung bắt trend càng chân thật, tự nhiên càng dễ đi vào lòng người. Thời gian vừa qua, mạng xã hội được một phen sôi nổi với các trend chữ viết tay của Gucci, iPhone 11 ra mắt… Các thương hiệu cũng không bỏ qua cơ hội này để nhanh chóng cập nhật xu hướng.


Được mệnh danh là gương mặt vàng trong làng “đu trend”, Durex nổi tiếng với khả năng bắt trend thần tốc, nội dung hóm hỉnh và thâm thuý.

Durex bắt trend thử thách 10 years challenge
Durex bắt trend dịp lễ Halloween

Có thể thấy điểm chung của những quảng cáo bắt trend đều gặp nhau ở sự gần gũi, thiết kế đơn giản, pha chút hài hước và được đánh giá cao bởi lợi ích tiết kiệm chi phí tiếp thị cho thương hiệu.

Đã xưa rồi cái thời các nhãn hàng tung hô khẩu hiệu, phóng đại tính năng sản phẩm để gây chú ý với khách hàng. Trong thời đại kỹ thuật với hàng triệu thông tin được chia sẻ qua từng phút từng giây, các nhà tiếp thị nên tận dụng lợi thế của trend để thu gọn khoảng cách với độc giả mục tiêu. Khi đó thương hiệu sẽ đóng vai trò cầu nối để giúp độc giả cập nhật nhanh chóng những chủ đề thịnh hành trong xã hội.

– Sử dụng meme: Những hình ảnh hài hước được chế từ lời bài hát hoặc lời thoại của một nhân vật đã không còn xa lạ gì với chúng ta. Tận dụng trào lưu này, bạn có thể “cài cắm” hình ảnh của sản phẩm hoặc đưa ra những thông điệp có phần trừu tượng (như Durex) để giữ chân người xem lâu hơn.

– Sử dụng micro-influencers: Những người có ảnh hưởng siêu nhỏ này tuy có số lượng người theo dõi tương đối nhỏ (1.000 – 10.000) nhưng các bài đăng của họ thường có mức độ tương tác mạnh mẽ. Ngoài ra, vì có nhiều sự tương đồng với người dùng hàng ngày (không giống như những người nổi tiếng khó tiếp cận), micro-influencers giống như bạn bè và gia đình của họ, do đó có nhiều khả năng tin tưởng vào ý kiến ​​và đề xuất của họ.

Xác định tần số chung của xu hướng và thương hiệu

Người ta thường nghĩ rằng trong cuộc đua bắt trend, ai nhanh tay hơn người đó thắng. Tuy nhiên, góc nhìn này còn nhiều hạn chế. Liệu xu hướng này có phù hợp với đối tượng mục tiêu? Sản phẩm sáng tạo có đồng điệu với thương hiệu?

Lấy ví dụ tại thị trường nước ngoài, thương hiệu dao cạo râu Gillette đã từng mắc sai lầm nghiêm trọng khi tung video “The Best a Man Can Get” nhằm hưởng ứng phong trào #MeToo. Nghe qua mục đích nhân văn của quảng cáo “kêu gọi nam giới lên tiếng vì bình đẳng phái nữ”, người ta sẽ không ngờ rằng khách hàng mục tiêu của Gillette là cánh mày râu lại nổi giận đến vậy. Nhiều người trong số họ bị thấy bị xúc phạm, cho rằng Gillette đang trở mặt với họ.

Huyền thoại bán hàng Tom Hopkins đã từng nói: “Trong kinh doanh, sẽ có những lúc bạn không thể làm hài lòng tất cả mọi người”. Nếu như vì lấy lòng số đông mà không từ bỏ cơ hội để bắt trend, thương hiệu rất có thể bị gắn mác “câu dẫn”. Chưa kể đến những xu hướng dù đang lan tỏa mạnh mẽ trong cộng đồng nhưng lại mang tính phản cảm, nếu ảnh hưởng xấu đến hình ảnh thương hiệu thì nhất định phải tránh.

Cuộc đời của một marketer xoay quanh từ trend ở 3 dạng:

  • Đi trước đón đầu – Viết trước trend đưa đến cho độc giả có cái nhìn mới mẻ
  • Lan tỏa xu hướng – Viết trong trend để độc giả tiếp cận và theo dõi
  • Bước đi sau cùng – Viết sau trend để độc giả rút ra ý nghĩa và quyết định hành vi mua

Bạn có thể chủ động lựa chọn sáng tạo từ những loại nội dung trên và hãy ghi nhớ chắt lọc những xu hướng sát với định vị thương hiệu. Tiếp theo là điều chỉnh nội dung sao cho phù hợp nhất với mục đích truyền thông, đảm bảo thể hiện rõ vai trò thương hiệu và sản phẩm, chứng tỏ khả năng mang đến dịch vụ tốt nhất cho khách hàng.

Cá nhân hóa nội dung, hướng về người dùng

Gen Z (những người sinh từ năm 1995 trở đi) là nhóm khách hàng tiềm năng nhất hiện nay và trở thành tâm điểm chú ý của giới tiếp thị. Họ có ưa chuộng trải nghiệm nhập vai, chính vì vậy khi bắt gặp bản thân mình trong các nội dung “trendy” của thương hiệu, họ sẽ cảm nhận thấy đang được lắng nghe, thấu hiểu và sẵn sàng chia sẻ lại bức ảnh hoặc video đó với bạn bè, người thân. Nhờ đó độ phủ của trend cũng như hình ảnh của thương hiệu sẽ lan tỏa rộng rãi hơn.

Theo tạp chí Forbes, nội dung thu hút Gen Z cần đảm bảo ba yếu tố: liên quan, có ý nghĩa và xác thực. Bằng cách sử dụng các thuật toán liên tục cập nhật dựa trên thông tin và thói quen của người tiêu dùng, các nội dung bắt trend sẽ mang tính cá nhân hóa cao và cung cấp cho họ nhiều thông tin có ích và chân thật hơn.

Kết luận

Thế giới marketing thay đổi với tốc độ chóng mặt, đòi hỏi các chiến lược phải luôn linh hoạt, sáng tạo và đáp ứng nhu cầu đa dạng của người tiêu dùng. Theo số liệu của BuzzMetrics, mỗi trend ở Việt Nam sẽ kéo dài khoảng 1 tuần. Trong đó, 3 – 4 ngày đầu sẽ tập trung sự quan tâm đông đảo nhất có và mỗi trends chỉ có 1-2 “người thắng cuộc” mà khách hàng nhớ tên. Rốt cuộc, tình thế của thương hiệu sẽ “nở hoa hay bế tắc” phụ thuộc vào việc bắt sóng xu hướng nhanh chóng và đúng cách để không bị bắt thóp.

Ngọc Anh / Advertising Vietnam

Tổng hợp

The post Thương hiệu bắt trend thế nào để không bị bắt thóp nội dung? appeared first on Advertising Vietnam.


Thương hiệu bắt trend thế nào để không bị bắt thóp nội dung? posted first on https://advertisingvietnam.com

5 lý do khiến quảng cáo Facebook không ra đơn & 4 cách khắc phục cụ thể

Chạy quảng cáo trên Facebook là một trong những cách tốt nhất để gia tăng doanh số bán hàng online. 80% những người làm kinh doanh online ở Việt Nam ở thời điểm 2015 tới bây giờ đều chọn Facebook để làm kênh bán hàng chính. Có thể bạn đã từng thấy rất nhiều case […]

The post 5 lý do khiến quảng cáo Facebook không ra đơn & 4 cách khắc phục cụ thể appeared first on Kiemtiencenter.


5 lý do khiến quảng cáo Facebook không ra đơn & 4 cách khắc phục cụ thể posted first on https://kiemtiencenter.com

Tôi đã bắt đầu với affiliate marketing như thế nào? (Case Study của Lộc)

Hello mọi người, mình là Nguyễn Đức Lộc, công việc hiện tại của mình là làm affiliate marketing – vốn dĩ mình là một fan cứng của Kiemtiencenter và anh Thế Khương từ khá lâu rồi. Mình biết đến anh Khương từ cuối 2014 thông qua những lần đọc các bài case study kiếm tiền […]

The post Tôi đã bắt đầu với affiliate marketing như thế nào? (Case Study của Lộc) appeared first on Kiemtiencenter.


Tôi đã bắt đầu với affiliate marketing như thế nào? (Case Study của Lộc) posted first on https://kiemtiencenter.com

Thứ Sáu, 21 tháng 2, 2020

Càn quét thị trường thế giới nhưng đây là lý do Starbucks “thất sủng” ở thị trường Việt Nam

Sau 6 năm tiến vào thị trường Việt Nam, Starbucks chỉ chiếm 1% thị phần, điều này đặt câu hỏi Starbucks đã có những bước đi sai lầm ra sao để một đế chế lớn với hơn 30.000 cửa hàng khắp ngóc ngách trên thế giới không thể mở rộng hơn thị trường có nền kinh tế mới nổi như Việt Nam?

Nhờ Howard Schultz mà người ta biết đến món uống latte cũng như sẵn sàng trả 4$ cho một cốc cà phê. Giám đốc điều hành và chủ tịch Starbucks là một tấm gương tỷ phú tự thân khiến nhiều người nể phục.

Ông ra đời ở Brooklyn, New York vào năm 1953 và lớn lên trong hoàn cảnh khó khăn. Ngôi nhà ông sống cùng gia đình thuộc một dự án nhà ở cộng đồng, tuổi thơ cơ cực theo Schultz chính là thời điểm xác định cuộc đời mình.

“Năm 7 tuổi là khoảnh khắc quyết định cuộc đời tôi,” Schultz kể lại. “Tôi đã thấy bản chất giấc mơ Mỹ cũng như thấy bố mẹ mình trải qua sự tuyệt vọng khốn cùng… Những vết sẹo này, nỗi xấu hổ đó, vẫn còn ở lại trong kí ức tôi đến tận ngày hôm nay.”

Tuy nhiên mẹ ông lại là người cổ vũ ông theo đuổi sự nghiệp học hành. Năm 18 tuổi, Schultz giành học bổng tại đại học Northern Michigan, trong khi vừa học vừa làm bất cứ công việc gì có thể như pha chế, hay thậm chí bán máu. Sau khi tốt nghiệp, trong cơn loay hoay giữa những công việc nhỏ nhặt, ông khám phá Starbuck.

Khởi đầu là môt nơi bán lẻ cà phê, Starbuck vào những năm 70 và 80 không thực sự có tiếng tăm. Đầu thập niên 80 khi Schultz gia nhập Starbucks, ông cho rằng hãng này có thể mở rộng để trở thành chuỗi cà phê toàn cầu. Năm 1987, ông có được nhãn hiệu Starbucks và 17 địa điểm quán café từ chủ tịch trước đó. Hành trình biến thương hiệu này thành sự mở rộng trong lĩnh vực bán lẻ tham vọng nhất lịch sử café chính thức khởi đầu.

Từ người vạch lên kế hoạch mở rộng thị trường mới cho Starbucks và cải tổ hình mẫu kinh doanh, Schultz cũng là người cứu vãn cổ phần của Starbucks tăng lên đến 1,140%.

Từ con số khiêm tốn 17 cửa hàng vào năm 1987, ngày nay Starbucks có đến hơn 30.000 cửa hàng trải khắp 75 quốc gia. Hãng này hiện có doanh số 22,4 tỷ USD và giá trị vốn hóa ở mức 84 tỷ USD. Cổ phần của Schultz nói riêng lên đến 3 tỷ USD. Ở tuổi 66, Schultz trở thành tỷ phú tự thân được ngưỡng mộ bậc nhất, được tạp chí Forbes vào năm 2019 xếp hạng giàu thứ 145 nước này với giá trị tài sản là 4,1 tỷ USD.

Triết lý kinh doanh và tầm nhìn chiến lược của ông chủ Starbucks được coi là khởi nguồn của đế chế Starbucks ta thấy ngày hôm nay.

Khi cửa hàng đầu tiền mở cửa ở New York sau cuộc cải tổ của Schultz, người ta lần đầu tiên biết đến khái niệm café latte, cùng với việc dùng tiếng Ý để xác định kích cỡ cốc café, điều này không chỉ giúp thể hiện yếu tố kết nối với cái nôi của văn hóa café Ý (vốn truyền cảm hứng cho ông chủ hãng này) mà còn có ý nghĩa kinh doanh sâu sắc hơn cả.

“Khách hàng tin rằng cốc café latte cỡ grande (cỡ lớn) của mình thể hiện họ hơn người khác – thú vị hơn, giàu có hơn, và sành điệu hơn,” theo tác giả Bryant Simon trong cuốn sách về đế chế Starbucks. Yếu tố tâm lý là lý do khiến khách hàng không ngần ngại chi khoản tiền không nhỏ cho một cốc café thông thường (khoảng 4 USD).

Starbuck đã thu về hàng tỷ USD bằng việc tạo nên thứ chưa từng tồn tại trước đó: không gian nơi khách hàng không chỉ có thể tự thưởng cho bản thân một cốc café ngon lành kiểu Ý, mà còn để thư giãn và giao tiếp xã hội trong môi trường được thiết kế hướng đến sự ấm áp nhưng hợp thời. Schultz muốn hướng chuỗi cửa hàng của mình như một địa điểm thứ ba nơi người ta tìm đến, chỉ đứng sau nhà và nơi làm việc. Và để làm được điều này, Starbucks mở cửa hàng ở rất nhiều nơi. Từ năm 1998 đến 2008, Starbucks phát triển từ 1.886 cửa hàng lên đến 16.680 cửa hàng.

Theo chuyên gia kinh tế, Starbucks là cách đơn giản khiến khách hàng cảm thấy mình đẳng cấp hơn hẳn. Hầu hết mọi người có thể không mua được xe hơi BMW, nhưng một cốc café Starbucks là biểu tượng của món hàng xa xỉ. Hướng đến sự gắn bó cảm xúc của khách hàng luôn là chiến lược Starbucks theo đuổi, khởi đầu bằng việc huấn luyện nhân viên thuần thục kĩ thuật pha chế cà phê, thậm chí đã có giai đoạn hãng này đóng cửa hàng ngàn cửa hàng để đào tạo nhân viên. Café được xay ngay tại cửa hàng, trang thiết bị luôn đươc nâng cấp, và các cửa hàng khắp nơi trên thế giới dần được định hình với cùng mô típ “tái hiện cảm giác của không gian café” với điểm nhấn địa phương và đồ nội thất kiểu cổ điển.

Sự thống nhất trong thiết kế và chất lượng đồ uống khiến Starbucks trở thành cầu nối cảm xúc hoàn hảo. Hãy thử tưởng tượng bạn đến từ thành phố New York và thường xuyên đến Starbucks, trong chuyến du lịch đến Seoul, khi nghĩ đến một quán café, bạn sẽ muốn đến Starbucks ở đây. Yếu tố quen thuộc, “ấm cúng như ở nhà” chính là chìa khóa dẫn khách hàng đến với chuỗi cà phê nghe quen thuộc nhưng chưa bao giờ nhàm chán này.

Starbucks đã tạo nên cuộc cách mạng thay đổi cách nhiều người nghĩ về café, thay vì chỉ đơn giản là món đồ uống. Nói về điều này, chính Schultz thừa nhận, “Cà phê là sản phẩm chúng tôi bán, nhưng không phải thứ chúng tôi kinh doanh. Chúng tôi kinh doanh gắn với con người. Tôi đam mê mối quan hệ giữa người với người.”

Mở cửa hàng đầu tiên vào thị trường vốn gắn liền với văn hóa cà phê như Việt Nam vào năm 2013, nhiều người nhận định đế chế này sẽ càn quét thị trường tiềm năng trong khoảng thời gian ngắn. Và đúng là ở giai đoạn đầu, Starbucks thu hút được sự chú ý của người tiêu dung như cách chuỗi cà phê nãy đã làm được ở nhiều quốc gia trên thế giới.

Tuy nhiên, sau 6 năm tiến vào thị trường Việt Nam, Starbucks chỉ chiếm 1% thị phần, điều này đặt câu hỏi Starbucks đã có những bước đi sai lầm ra sao để một đế chế lớn với hơn 30.000 cửa hàng khắp ngóc ngách trên thế giới không thể mở rộng hơn thị trường có nền kinh tế mới nổi như Việt Nam?

Một trong những lý do chính là truyền thống và văn hóa cà phê đặc biệt ở Việt Nam nói chung. Được coi như một phần không thể thiếu của cuộc sống, những quán cà phê xuất hiện ở mọi ngõ ngách, tuy nhiên thị phần cà phê ở Việt Nam rất đa dạng với những cửa hàng gia đình, quán cà phê độc lập chiếm thị phần lớn. Thậm chí 5 chuỗi cà phê lớn nhất ở Việt Nam cũng chỉ chiếm 15,3% thị phần. Trong đó Highland đứng đầu với 7,2%. Điều này cho thấy những quán cà phê truyền thống vẫn là lựa chọn tối ưu với lượng lớn người tiêu thụ cà phê ở Việt Nam.

Những chuỗi cà phê nước ngoài, đặc biệt là Starbucks gặp trở ngại đặc biệt hơn hẳn ở thị trường Việt Nam, đầu tiên ở chính sản phẩm của chuỗi cà phê này. Truyền thống và thói quen uống cà phê của người Việt Nam gắn với cà phê robusta, trong khi Starbucks chỉ phục vụ Arabica với mùi vị nhẹ nhàng hơn, nhưng có giá thành đắt hơn. Robusta rẻ hơn arabica do không đòi hỏi quá trình sản xuất quá đặc biệt, ở Viêt Nam, robusta hiện nay chiếm 97% tổng sản lượng cà phê.

Quan niệm đối với loại cà phê này khá khác biệt giữa chuỗi cà phê lớn như Highland và người tiêu thụ cà phê ở Việt Nam. Trong khi robusta được coi có chất lượng không bằng arabica và thường chỉ được pha lẫn trong hỗn hợp espresso, khách hàng Việt Nam đã rất quen thuộc với mùi vị đậm đà và lượng caffeine cao. Việc không thể điều chỉnh để thích ứng với khẩu vị địa phương là yếu tố khiến Starbucks không đánh bại những chuỗi cà phê địa phương như Highland hay Trung Nguyên.

Lý do thứ hai kéo theo sự thất bại của Starbucks ở thị trường Việt Nam liên quan đến mức giá thành. Với mức tăng trưởng cao, tuy nhiên đối tượng khách hàng có thể chi trả cho giá thành “quốc tế” của Starbucks chỉ chiếm lượng nhỏ dân số Việt Nam. Trong khi các quán cà phê độc lập cũng phục vụ cả cà phê đặc trưng từ arabica với giá thành rẻ hơn, người tiêu thụ với mức thu nhập hạng trung thường có xu hướng chọn mức giá rẻ hơn. Thị trường Việt Nam hướng đến vị trí tiện lợi và giá trị có lợi, dù nhiều người chi trả mức giá cao cho cốc cà phê Starbucks để có những trải nghiệm sành điệu như tôn chỉ kinh doanh của công ty này, họ chỉ chiếm phần rất nhỏ dân số Việt Nam.

Trong khi thế hệ trẻ Việt Nam dành ra khoảng 40 USD một tháng để ăn uống bên ngoài, cà phê lại không phải món uống chủ đạo và được yêu thích với nhóm tiêu thụ tiềm năng này. Nếu so sánh với một số chuỗi cà phê mới nổi theo concept của Starbucks như Highland hay The Coffee House, Starbucks có nhiều điểm bất lợi khi cùng cung cấp trải nghiệm nhưng không phục vụ đồ uống phù hợp với khẩu vị địa phương, trong khi với Highland hay The Coffee House, sản phẩm đồ uống đa dạng bao gồm hai loại cà phê arabica và robusta với giá thành thấp hơn từ 30-50% so với Starbucks.

Việc thất bại ở thị trường như Việt Nam là bài toán thách thức mở rộng đế chế của Starbuck cũng như Howard Schultz. Tuy nhiên, cuộc cải tổ của chuỗi cà phê này với thị trường cà phê thế giới vẫn là một câu chuyện “có hậu” với doanh nghiệp có xuất phát điểm chỉ là 17 cửa hàng ở thành phố Seattle.

*Nguồn: Thương trường 24h

The post Càn quét thị trường thế giới nhưng đây là lý do Starbucks “thất sủng” ở thị trường Việt Nam appeared first on Advertising Vietnam.


Càn quét thị trường thế giới nhưng đây là lý do Starbucks “thất sủng” ở thị trường Việt Nam posted first on https://advertisingvietnam.com